Truyện ngắn
Tác giả: Nguyễn Quang Sáng

Chiếc lược ngà

Chương 1

Vào một đêm trời sáng trăng suông, trong một ngôi nhà nhỏ, giữa Tháp Mười

mà chung quanh nước đã lên đầy, nói cho đúng đây là cái trạm của đường dây

giao thông, nhà nhỏ nhưng người lại đông. Chưa đến chuyến đi, chúng tôi còn

phải đợi. Ban ngày, chúng tôi chẳng biết đi đâu, hết nằm lại ngồi, có lúc thấy

cuồng chân, thật tù túng, nhưng lại có cái thú bù lại là thọc cần câu ra khỏi nhà

để câu cá. Ngày câu cá đã đủ ăn rồi, đêm không ai muốn câu nữa. Trong lúc

nhàn rỗi ấy, chúng tôi thường hay kể chuyện. Và tôi nghe câu chuyện này của

một đồng chí già kể lại. Ông vốn là người hay kể chuyện - nhiều nhất là

chuyện tiếu lâm, có cả tiếu lâm kháng chiến nữa, chuyện nào cũng làm cho

chúng tôi cười lăn cười bò. Trước khi kể, bao giờ ông cũng cười mỉm, mặt trở

nên hóm hỉnh, đúng là ông lão có duyên già. Nhưng hôm ấy ông đâm ra khác

thường. Ông già kể nhưng vẫn ngồi im, đầu hơi cúi xuống, trầm lặng, mặt

ngước nhìn ra mênh mông. Chắc là một chuyện cảm động, chúng tôi đoán như

vậy và không đùa nữa. Bên ngoài, một cơn gió ù ù thổi tới. Cái trạm này - một

ngôi nhà cất chen vào giữa một chòm cây giữa khu rừng tràm thưa, mỗi khi có

một cơn gió, sóng nối nhau đập vào tàn cây, nhà lại rung lên và lắc lư như một

con thuyền đang chơi vơi giữa biển. Sóng đập đều đều vào các chòm cây. Đàn

cò đứng ngủ không yên, một vài con vỗ cánh bay chấp chới. Sóng gió như

nhắc nhở ông điều gì, ông nghiêng tai lắng nghe. Khi cơn gió thổi qua, mặt

nước trở lại yên lặng, ông mới ngẩng lên mà nói. Ông nói với chúng tôi mà như

nói với cả trời nước vậy, ông không nhìn vào chúng tôi mà nhìn ra biển nước,

chân trời và các vì sao.

- Chuyện xảy ra cách đây đã hơn một năm rồi, mà mỗi lần nhớ lại, tôi cứ bàng

hoàng như vừa thấy một giấc mơ - Ông mở đầu với giọng trầm đục: - Hôm đó,

tôi đi từ trạm N.G. đến L.A. Khi chiếc xuồng máy đuôi tôm vừa xô ra bến thì

chúng tôi ai cũng muốn biết người lái ấy là ai. Không phải tò mò mà cần phải

biết. Bởi vì trước khi đi, người trạm trưởng có báo cáo với chúng tôi đó là một

đoạn đường dài, một đoạn đi xuồng máy, một đoạn đi bộ, đi xuồng dễ gặp trực

thăng soi, đi bộ thì dễ gặp biệt kích. Gặp trực thăng soi, anh em phải bình tĩnh,

không được nhốn nháo, không được tự động mà phải tuyệt đối tuân theo sự

điều khiển của người lái. Nói như vậy có nghĩa là sinh mạng mình phải hoàn

toàn phó thác cho người cầm lái ấy có phải không các bạn? Cho nên, tôi cần

nhìn, cần biết rõ người đang cầm giữ sinh mạng mình. Nhưng trời đã tối rồi, tôi

chỉ thấy đó là một cô gái người mảnh khảnh, vai mang cây "cạc-bin" bá xếp

của Mỹ, đầu chít khăn, dáng điệu gọn gàng.

Trước đó, tôi có được nghe tiếng đồn trạm này có một cô giao liên rất thông

minh. Một hôm cô dẫn một đoàn khách sắp sửa qua sông, cô để khách dừng lại

ngoài ruộng xa. Cô và một anh giao liên nữa tiến trước dọn đường. Đến vườn

cây bờ sông, cô thấy mình đã lọt vào ổ phục kích của địch. Nhưng cô không

bối rối. Cô vừa gọi người bạn của mình vừa nói, cô cố ý nói lớn cho bọn địch

nghe: "Tình hình yên, không có gì, anh trở lại dẫn khách đi, còn tôi sang sông

lắc xuồng đem qua". Trong câu nói ấy có ám hiệu. Anh giao liên liền quay lại,

êm ái đưa khách bọc qua ngả khác, vượt sông cách đó độ một vài cây số. Còn

cô ta, trước khi qua sông cô còn gài lại hai trái lựu đạn. Cô qua sông, thế là

thoát. Còn đám biệt kích kia, bọn nó tưởng thật, định hốt cả một đoàn khách,

nên chẳng dám rục rịch, mà cứ chờ. Chờ mãi, bọn nó biết, nó chửi rủa nhau,

trong lúc lục đục kéo về lớ quớ thế nào lại vấp cả hai quả lựu đạn gài, rụng hết

mấy mạng. Qua chuyện đó, người ta thêm thắt rằng cô giao liên ấy có cái mũi

rất thính, cô dùng mũi để nghe mùi địch và có thể phân biệt được thằng nào là

Mỹ, thằng nào là ngụy nữa.

Tôi nghĩ, nếu người nữ giao liên ấy là cô đang lái chiếc xuồng máy này thì

mình không đến nỗi lo lắm. Tôi muốn hỏi nhưng thấy không tiện nên đành

phải nói khéo:

- ở trạm này có mấy cháu nữ vậy hở cháu?

- Dạ một chị là chị nuôi với cháu nữa là hai.

Vậy là cô nữ giao liên này rồi, tôi cảm thấy mừng. Nghe giọng cô nói, tôi đoán

cô bé độ mười tám hai mươi là cùng. Tôi cảm thấy mến, muốn hỏi thêm nhưng

thấy cô đang lom khom quấn dây vào bánh trớn nên lại thôi. Quấn dây vào

bánh trớn xong, cô đứng thẳng người, quay lại nói với xuồng sau:

- Tôi đi trước nhé!

Mấy anh giao liên xuồng sau nhao lên:

- Thôi chị Hai đi trước đi.

- Chị út đi mạnh giỏi nhá!

Người gọi chị Hai, người gọi chị út, chẳng biết cô thật thứ mấy.

Cô đáp lại mấy câu láu lỉnh, gọi mấy chú giao liên là em rồi quay lại chúng tôi,

hạ giọng hết sức lễ phép:

- Các bác, các chú, các anh có gì quan trọng nên để trong túi áo, hoặc để trong

một cái gói riêng. Lỡ gặp trực thăng bắn hoặc biệt kích thì đồ quý không bị

mất, bị cháy.

Cô báo cho chúng tôi những điều không may có thể xảy ra nhưng giọng nói lại

dịu dàng - dễ thương nữa - khác hẳn với giọng nói căng thẳng của ông trạm

trưởng, nên tôi thấy không lo lắm. Nói xong, cô khom lưng, giật máy. Xuồng

rung lên theo tiếng máy nổ giòn, từ từ tách ra khỏi vòm cây rậm, rồi rào rào

lướt tới. Gió thổi mát cả người, mát đến từng chân tóc. Nghe cô dặn, anh em

khách lúi húi mở bòng. Còn tôi, tôi có cái gì quý ngoài giấy tờ, tiền ăn đường

đã để sẵn trong túi? Tôi chợt nhớ tới cây lược ngà nhỏ. Tôi liền mở bòng, mò

lấy cây lược, cho vào túi nhái đựng giấy tờ, bỏ vào túi ngực, rồi cài kim tây lại

thật cẩn thận.

Các bạn! Mỗi lần nhìn thấy cây lược ngà nhỏ ấy là mỗi lần tôi băn khoăn và

ngậm ngùi. Trong cuộc đời kháng chiến của tôi, tôi chứng kiến không biết bao

nhiêu cuộc chia tay, nhưng chưa bao giờ, tôi bị xúc động như lần ấy. Trong

những ngày hoà bình vừa lập lại, tôi cùng về thăm quê với một người bạn. Nhà

chúng tôi ở cạnh nhau gần vàm kinh nhỏ đổ ra sông Cửu Long. Chúng tôi cùng

thoát ly đi kháng chiến, đầu năm 1946, sau khi tỉnh nhà bị chiếm. Lúc đi, đứa

con gái đầu lòng của anh - và cũng là đứa con duy nhất của anh, chưa đầy một

tuổi. Anh thứ sáu và cũng tên là Sáu. Suốt mấy năm kháng chiến, chị Sáu có

đến thăm anh mấy lần. Lần nào anh cũng bảo chị đưa con đến. Nhưng cái cảnh

đi thăm chồng ở chiến trường miền Đông không đơn giản. Chị không dám đưa

con qua rừng. Nghe chị nói có lý anh không trách được. Anh chỉ thấy con qua

tấm ảnh nhỏ thôi. Đến lúc được về, cái tình người cha cứ nôn nao trong người

anh. Xuồng vào bến, thấy một đứa bé độ tám tuổi tóc cắt ngang vai, mặc quần

đen, áo bông đỏ đang chơi nhà chòi dưới bóng cây xoài trước sân nhà, đoán

biết là con, không thể chờ xuồng cặp lại bến, anh nhún chân nhảy thót lên, xô

chiếc xuồng tạt ra, khiến tôi bị chới với. Anh bước vội vàng với những bước

dài, rồi dừng lại kêu to:

- Thu! Con.

Vừa lúc ấy, tôi đã đến gần anh. Với lòng mong nhớ của anh, chắc anh nghĩ

rằng, con anh sẽ chạy xô vào lòng anh, sẽ ôm chặt lấy cổ anh. Anh vừa bước,

vừa khom người đưa tay đón chờ. Nghe gọi, con bé giật mình, tròn mắt nhìn.

Nó ngơ ngác, lạ lùng. Còn anh, anh không ghìm nổi xúc động. Mỗi lần bị xúc

động, vết thẹo dài bên má phải lại đỏ ửng lên, giần giật, trông rất dễ sợ. Với vẻ

xúc động ấy và hai tay vẫn đưa về phía trước, anh chầm chậm bước tới, giọng

lặp bặp run run:

- Ba đây con!

- Ba đây con!

Con bé thấy lạ quá, nó chớp mắt nhìn tôi như muốn hỏi đó là ai, mặt nó bỗng

tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên: "Má! Má". Còn anh, anh đứng sững lại đó,

nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương, và

hai tay buông xuống như bị gãy.

Vì đường xa, chúng tôi ở nhà được có ba ngày. Trong ba ngày ngắn ngủi đó,

con bé không kịp nhận ra anh là cha. Đêm nó không cho anh ngủ với chị. Con

bé tính khí thật không vừa, nó tuột xuống giường, đứng dưới đất chồm lên, nắm

tay anh kéo ra. Kéo không được, nó kê miệng cắn. Cho đến ngày đi, tay anh

vẫn còn hằn sâu những dấu răng của con. Suốt ngày anh chẳng đi đâu xa, lúc

nào cũng vỗ về con. Nhưng càng vỗ về con bé càng đẩy ra. Anh mong được

nghe một tiếng "ba" của con bé, nhưng con bé chẳng bao giờ chịu gọi. Nghe

mẹ nó bảo gọi ba vào ăn cơm thì nó bảo lại:

- Thì má cứ kêu đi.

Mẹ nó đâm nổi giận, quơ đũa bếp dọa đánh, nó phải gọi nhưng lại nói trổng:

- Vô ăn cơm!

Anh Sáu vẫn ngồi im, giả vờ không nghe, chờ nó gọi "ba vô ăn cơm". Con bé

cứ đứng trong bếp nói vọng ra:

- Cơm chín rồi! - Anh cũng không quay lại. Con bé bực quá, quay lại mẹ và

bảo:

- Con kêu rồi mà người ta không nghe.

Anh quay lại nhìn con vừa khẽ lắc đầu vừa cười. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi

không khóc được, nên anh phải cười vậy thôi. Bữa sau, đang nấu cơm thì mẹ

nó chạy đi mua thức ăn. Mẹ nó dặn, ở nhà có gì cần thì gọi ba giúp cho. Nó

không nói không rằng, cứ lui cui dưới bếp. Nghe nồi cơm sôi, nó giở nắp, lấy

đũa bếp sơ qua - nồi cơm hơi to, nhắm không thể nhắc xuống để chắt nước

được, đến lúc đó nó mới nhìn lên anh Sáu. Tôi nghĩ thầm, con bé đang bị dồn

vào thế bí, chắc nó phải gọi ba thôi. Nó nhìn dáo dác một lúc rồi kêu lên:

- Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái! - Nó cũng lại nói trổng.

Tôi lên tiếng mở đường cho nó:

- Cháu phải gọi "ba chắt nước giùm con", phải nói như vậy.

Nó như không để ý đến câu nói của tôi, nó lại kêu lên:

- Cơm sôi rồi, nhão bây giờ!

Anh Sáu cứ vẫn ngồi im. Tôi dọa nó:

- Cơm mà nhão, má cháu về thế nào cũng bị đòn. Sao cháu không gọi ba cháu.

Cháu nói một tiếng "ba" không được sao?

Lúc đó nồi cơm sôi lên sùng sục. Nó hơi sợ, nó nhìn xuống, vẻ nghĩ ngợi, nhắc

không nổi, nó lại nhìn lên. Tiếng cơm sôi như thúc giục nó. Nó nhăn nhó muốn

khóc. Nó nhìn nồi cơm, rồi nhìn lên chúng tôi. Thấy nó luýnh quýnh tôi vừa tội

nghiệp vừa buồn cười, nghĩ chắc thế nào cũng chịu thua. Nó loay hoay rồi

nhón gót lấy cái vá múc ra từng vá nước, miệng lầm bầm điều gì không rõ. Con

bé đáo để thật.

Trong bữa cơm đó, anh Sáu gắp một cái trứng cá to vàng để vào cái chén nó.

Nó liền lấy đũa xoi vào chén, để đó rồi bất thần hất cái trứng ra, cơm văng

tung tóe cả mâm. Giận quá và không kịp suy nghĩ, anh vung tay đánh vào

mông nó và hét lên:

- Sao mày cứng đầu quá vậy, hả?

Tôi tưởng con bé lăn ra khóc, sẽ giãy, sẽ đạp đổ cả mâm cơm, hoặc sẽ chạy vụt

đi. Nhưng không, nó ngồi im, đầu cúi gằm xuống. Nghĩ thế nào nó cầm đũa,

gắp lại cái trứng cá để vào chén, rồi lặng lẽ đứng dậy, bước ra khỏi mâm.

Xuống bến, nó nhảy xuống xuồng, mở lòi tói (1) cố làm cho dây lòi tói khua rổn rảng, khua thật to, rồi lấy dầm bơi qua sông. Nó sang qua nhà ngoại, méc với ngoại và khóc ở bên ấy - chiều đó, mẹ nó sang dỗ dành mấy nó cũng không về. Ngày mai anh Sáu phải đi, đó là đêm cuối cùng của hai anh chị, chị cũng không muốn bắt nó về.

Sáng hôm sau, bà con bên nội, bên ngoại đến rất đông - Cả con bé cũng theo

ngoại nó về. Anh Sáu phải lo tiếp khách, anh như không chú ý đến con nữa.

Còn chị Sáu thì lo chuẩn bị đồ đạc cho chồng, chị lo xếp từng chiếc áo, gói

ghém đồ đạc vụn vặt vào cái túi nhỏ, chị cứ lúi húi bên chiếc ba lô. Con bé như

bị bỏ rơi, lúc đứng vào góc nhà, lúc đứng tựa cửa và cứ nhìn mọi người đang

vây quanh ba nó. Vẻ mặt của nó có cái gì hơi khác, nó không bướng bỉnh hay

nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt

ngây thơ của con bé trông rất dễ thương. Với đôi mi dài uốn cong, và như

không bao giờ chớp, đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác,

không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa.

Đến lúc chia tay, mang ba lô lên vai, sau khi bắt tay hết mọi người, anh Sáu

mới đưa mắt nhìn con, thấy nó đứng trong góc nhà.

Chắc anh cũng muốn ôm con, hôn con, nhưng hình như cũng lại sợ nó giẫy lên

lại bỏ chạy, nên anh chỉ đứng nhìn nó. Anh nhìn nó với đôi mắt trìu mến lẫn

buồn rầu. Tôi thấy đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao.

-Thôi! Ba đi nghe con! - Anh Sáu khe khẽ nói.

Chúng tôi, mọi người - kể cả anh, đều tưởng con bé sẽ đứng yên đó thôi.

Nhưng thật lạ lùng, đến lúc ấy, tình cha con như bỗng nổi dậy trong người nó,

trong lúc không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên:

-Ba... a... a... ba!

Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người,

nghe thật xót xa. Đó là tiếng "Ba" mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm, tiếng

"Ba" như vỡ tung ra từ lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một

con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó.

Nó vừa ôm chặt lấy cổ ba nó vừa nói trong tiếng khóc:

-Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con!

Ba nó bế nó lên - nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn

cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa.

Trong lúc đó, ngoại nó cho tôi biết, đêm qua, bà đã tìm hiểu được vì sao nó

không chịu nhận ba nó. Bà hỏi:

-Ba con, sao con không nhận?

-Không phải - đang nằm mà nó cũng giẫy lên.

-Sao con biết là không phải? Ba con đi lâu, con quên rồi chứ gì?

-Ba không giống, cái hình ba chụp với má,

- Sao không giống, đi lâu, ba con già hơn trước thôi.

-Cũng không phải già, mặt ba con không có cái thẹo trên mặt như vậy.

à ra vậy, bây giờ bà mới biết. Té ra nó không nhận ba nó vì là cái vết thẹo, và

bà nó cho biết, ba nó đi đánh Tây bị Tây bắn bị thương - bà nhắc lại tội ác mấy

thằng Tây ở đồn đầu vàm cho nó nhớ. Nghe bà kể nó nằm im, lăn lộn và thỉnh

thoảng lại thở dài như người lớn. Sáng hôm sau, nó lại bảo ngoại đưa nó về. Nó

vừa nhận ra thì ba nó đã đến lúc phải đi rồi.

Trong lúc đó, nó vẫn ôm chặt lấy ba nó. Không ghìm được xúc động và không

muốn cho con thấy mình khóc, anh Sáu một tay ôm con, một tay rút khăn lau

nước mắt, rồi hôn lên mái tóc con:

-Ba đi rồi ba về với con.

-Không! - Con bé hét lên, hai tay nó xiết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay

không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, và đôi

vai nhỏ bé của nó run run.

Nhìn cảnh ấy, bà con xung quanh có người không cầm được nước mắt, còn tôi

bỗng thấy khó thở như có bàn tay ai nắm lấy trái tim tôi. Tôi bỗng nảy ra ý

nghĩ, muốn bảo anh ở lại vài hôm. Nhưng thật khó, chúng tôi chưa biết mình sẽ

đi tập kết hay ở lại. Chúng tôi cần về đúng ngày, nhận lệnh để kịp chuẩn bị.

Thế là đến lúc phải đi rồi, mọi người phải xúm lại vỗ về nó, mẹ nó bảo:

-Thu! Để ba con đi. Thống nhất rồi ba con về.

Bà ngoại nó vừa vuốt tóc nó vừa dỗ:

-Cháu của ngoại giỏi lắm mà! Cháu để ba cháu đi rồi ba sẽ mua về cho cháu

một cây lược.

Con bé lại ôm chầm ba nó một lần nữa và mếu máo:

-Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba! - Nó nói trong tiếng nấc, vừa

nói vừa từ từ tuột xuống.

Sau đó hai chúng tôi trở lại miền Đông. Chúng tôi là cán bộ đoàn thể, chúng tôi

không đi tập kết. Từ năm năm mươi tư đến năm mươi tám, năm mươi chín và

những năm khó khăn, các bạn đã biết rồi. Về công việc và đời sống ở rừng, tôi

có thể kể cho đến sáng, có đêm bị biệt kích vây bắt đến ba lần, có ngày không

gạo ăn, ăn toàn là bắp, nhưng thôi, đó là chuyện khác. Tôi xin trở lại mối tình

cha con của bạn tôi. Những đêm rừng, nằm trên võng mắc chỉ thấy tấm ny lông

nóc, lúc nhớ con, anh cứ ân hận sao mình lại đánh con. Nỗi khổ đó cứ giầy vò

anh - một hôm hai đứa đang rì rầm kể, anh bỗng ngồi bật dậy:

- Phải rồi! ở rừng này, người ta thỉnh thoảng có bắn voi, mình phải làm một

cây lược bằng ngà cho con bé mới được.

Và anh ao ước có một khúc ngà, một khúc ngà voi. Thật may mắn, sau đó

không lâu, vì thiếu thức ăn, anh em nghĩ đến chuyện đi săn, đi săn bằng tên

thuốc chớ không phải bằng súng. Lúc đó rừng vẫn còn phải giữ im lặng. Thật

ra thì anh em không đi săn voi, nhưng tình cờ lại gặp nó. Anh em định thả nó,

nhưng anh Sáu quyết định bắn.

Tôi hãy còn nhớ buổi chiều hôm đó - buổi chiều sau một ngày mưa rừng, giọt

mưa còn đọng trên lá, rừng sáng lấp lánh. Đang ngồi làm việc dưới tấm ny lông

nóc, tôi bỗng nghe tiếng kêu. Từ con đường mòn chạy lẫn trong rừng sâu, anh

hớt hải chạy về, tay cầm khúc ngà đưa lên khoe với tôi. Mặt anh hớn hở như

một đứa trẻ được quà.

Sau đó anh lấy vỏ đạn hai mươi ly của Mỹ, đập mỏng làm thành một cây cưa

nhỏ, cưa khúc ngà thành từng miếng nhỏ. Những lúc rỗi, anh cưa từng chiếc

răng lược, thận trọng, tỷ mỉ và cố công như người thợ bạc. Chẳng hiểu sao tôi

thích ngồi nhìn anh làm và cảm thấy vui vui khi thấy bụi ngà rơi mỗi lúc một

nhiều. Một ngày, anh cưa được một vài răng. Không bao lâu sau, cây lược được

hoàn thành. Cây lược dài độ hơn một tấc, bề ngang độ ba phân rưỡi, cây lược

cho con gái, cây lược dùng để chải mái tóc dài, cây lược chỉ có một hàng răng

thưa. Trên sóng lưng lược có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng, tẩn

mẩn khắc từng nét: "Yêu nhớ tặng Thu, con của ba". Cây lược ngà ấychưa chải

được mái tóc của con, nhưng nó như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh.

Những đêm nhớ con, anh ít nhớ đến nỗi hối hận đánh con, nhớ con, anh lấy

cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt. Có

cây lược, anh càng mong gặp lại con. Nhưng rồi một chuyện không may xảy

ra. Một ngày cuối năm năm mươi tám, năm đó ta chưa võ trang - trong một trận

càn lớn của quân Mỹ - ngụy, anh Sáu bị hy sinh. Anh bị viên đạn của máy bay

Mỹ bắn vào ngực. Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối lại

điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được, anh đưa tay vào

túi, móc cây lược, đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu. Tôi không đủ lời lẽ để tả

lại cái nhìn ấy, chỉ biết rằng, cho đến bây giờ, thỉnh thoảng tôi cứ nhớ lại đôi

mắt của anh.

- Tôi sẽ mang về trao tận tay cho cháu.

Tôi cúi xuống nhìn anh và khẽ nói. Đến lúc ấy, anh mới nhắm mắt đi xuôi.

Các bạn ạ! Trong những ngày đen tối ấy, người sống phải sống bí mật thì cũng

đã đành một lẽ, còn người chết cũng phải chết bí mật nữa. Mộ của anh không

thể đắp cao lên được - tìm thấy mồ mả, chúng sẽ đào lên và tìm ra dấu vết - cho

nên ngôi mộ của anh là ngôi mộ bằng, bằng phẳng như mặt rừng vậy. Tôi lấy

dao khắc vào một gốc cây rừng cạnh chỗ anh nằm làm dấu cho dễ nhớ.

Sống như thế và chết như thế, hỏi vậy làm sao mà chịu được? Chúng ta buộc

phải cầm súng.

Sau khi có căn cứ khá an toàn, người nhà tôi có đến thăm. Tôi định gởi cây

lược ngà về cho cháu Thu. Nhưng chị Sáu và cháu Thu không còn ở làng nữa.

Qua những lần tố cộng, những trận càn, những trận đốt làng dồn dân của bọn

Mỹ, không có mấy năm mà làng nước tan tác đi nhiều lắm. Mỗi người đi mỗi

nơi chẳng ai được tin ai. Người nhà tôi bảo có lúc nghe chị Sáu chạy lên Sài

Gòn, có lúc lại nghe chị Sáu lại quay về Đồng Tháp, vì thế mà tôi giữ mãi cây

lược của cháu.

Tôi cầm cây lược nhìn ngắm, lòng thấy bùi ngùi.

Trong lúc đó tiếng máy vẫn nổ giòn, và tôi lại muốn nhìn rõ cô giao liên -

người đang giữ sinh mạng của mình. Đêm không tối, cũng không sáng, nền

trời tràn qua nhiều lớp mây mỏng, rải rác một vài chòm sao. Trời sáng mập mờ

- Tôi chỉ nhìn thấy được dáng người của cô giao liên, gương mặt như hơi tròn

và một đôi mắt, đôi mắt của người con gái thật là khó tả. Chẳng hiểu cớ sao, từ

cái ánh mắt ấy, tôi dần dần thấy một người quen, quen lắm. Tôi cố nhớ, nhớ

không ra, tôi thấy mình lẩn thẩn.

Bỗng có tiếng kêu thất thanh:

- Máy bay !

- Máy bay !

Xuồng liền chòng chành, như có người định lao xuống, người nhốn nháo và

nhiều tiếng lao nhao lên:

- Tấp vào !

- Đâu?

- Đèn nó ở phía sau kìa!

- Tấp vào, tấp vào. Phản lực!

Cô giao liên cho máy nổ nhỏ dần, quay lại sau một lúc rồi bảo:

- Không phải đâu, sao trên trời đó mà.

Trong lúc mọi người đang lo, có người hoảng hốt, có người định nhảy thì giọng

của cô bình tĩnh như vậy đó. Có người chưa thật tin, nhưng trước thái độ thản

nhiên của cô, mọi người lại ngồi yên. "Sao trên trời đó mà", giọng nói nhỏ nhẹ

và ngọt ngào. Và cô lại cho máy nổ to.

Sau mấy ngày đi bộ, được ngồi trên chiếc xuồng máy thật là thích thú. Nhưng

nghĩ đến máy bay, tôi lại thấy phiền. Tiếng máy đuôi tôm nổ to quá như át cả

tiếng máy bay. May mà gặp cô giao liên bình tĩnh, cô mà rối, chắc có người đã

nhảy rồi, xuồng chắc cũng chìm mất. Tôi cố không nghĩ gì khác, tập trung lắng

nghe tiếng máy bay.

Xuồng bắt đầu vào một quãng kinh trống, hai bên bờ không có một ngôi nhà,

xa xa một chòm tre, một lùm cây, hai bên là cánh đồng hoang. Tôi sốt ruột

muốn cho xuồng lao nhanh hơn. Hình như hiểu tâm trạng tôi, cô cho máy nổ

to. Sóng trước mũi xuống trào lên kéo thành những đợt sóng dài, làm run rẩy

đám cỏ hai bên bờ, vỗ bập bềnh các giề lục bình và các đám nghề(2) mọc

hoang.

Trong lúc mọi người đang yên tâm, đang thích thú ngồi trên chiếc xuồng lao

nhanh thì cô giao liên tắt máy báo tin:

- Máy bay!

Cô vừa nói vừa tấp sát lại bụi tre. Chiếc xuồng sau cũng tấp lại. Rõ ràng là có

tiếng máy bay, tiếng cánh quạt "lạch bạch" của đám trực thăng Mỹ. Tôi chẳng

biết cái lỗ mũi của cô thính đến cỡ nào, còn cái tai của cô rõ là thính thật, tiếng

máy bay lẫn trong tiếng máy đuôi tôm, thật khó nghe.

Xuồng chòng chành, có người chới với muốn té:

- Nó còn xa lắm! - Cô trấn tĩnh chúng tôi - Các bác, các chú bước lên phân tán

mỏng, tìm núp vào chỗ kín. Nếu nó có soi tới các bác, các chú nhớ đừng động

đậy - Trong lúc cô nói, anh em khách đã vọt lên bờ hết rồi. Tôi là người cuối

cùng. Tôi vừa bước lên thì cô bảo:

- Bác cứ ở đây đi. Xuồng ít người không sao!

Nếu một người nào khác bảo như vậy, tôi chắc không nghe. Trước thái độ của

cô, ngồi cùng một chiếc xuồng với cô tôi thấy vững hơn ngồi trong công sự.

Đám trực thăng Mỹ từ đầu kinh soi lần lần tới, tiếng động cơ của nó rầm rộ,

như hàng chục chiếc tầu thủy đang chạy. ánh sáng ngọn đèn soi của nó mỗi

lúc một gần. Bọn Mỹ, ngụy thường đi ba chiếc, một chiếc tìm người, tìm mục

tiêu, còn hai chiếc soi đèn thì bắn.

- Lấy lá cây che kín, đừng động đậy nhé! - Cô lại nhắc tôi.

Đó là lần đầu tiên tôi bị trực thăng soi, khi ngọn đèn của nó soi qua - cái thứ

ánh sáng chói chang và tiếng cánh quạt đập trên đầu, tôi thấy xuồng mình rõ

quá, tôi thấy cái be dài, thấy những lỗ trống của ba lô dưới lớp lá ngụy trang,

thấy cỏ quặn lên như trong một cơn lốc, tôi nghĩ: "Thôi chết rồi". Tôi rút vai

thu mình cho nhỏ lại. Như đoán được tâm trạng của tôi, cô lại nhắc:

- Nó không thấy rõ mình như mình thấy mình đâu!

Lần này, lời cô nói với tôi không hiệu quả nữa. Phút chốc tôi lại muốn lao

xuống nước. Nhưng tôi kịp trấn tĩnh.

Rồi cái ánh sáng ma quỷ ấy xa dần với tiếng động cơ rầm rộ mỗi lúc mỗi xa.

Đêm lại mờ mờ đi. Tôi vẫn ngồi im vì còn lo nó quay trở lại. Cô giao liên nói

như an ủi tôi:

- Nó làm coi dữ vậy, nhưng nó chẳng thấy cái gì đâu. Miễn là mình bình tĩnh,

đừng động đậy - Đoạn cô nhìn ra cánh đồng, gọi anh em khách. Anh em có

người ướt nhem, vừa thay quần áo, vừa chửi rủa. Xuồng lại nổ máy.

Quá nửa đêm, đoàn chuyển lên đi bộ - Chúng tôi đi men theo bờ mẫu, băng

qua cánh đồng, bờ mẫu chỗ bùn lầy, chỗ lồi lõm, chỗ nhầy nhụa, chúng tôi đi

sát vào nhau và hầu như thay phiên nhau trượt té vậy. - Người này đang lom

khom ngồi dậy, người khác lại đánh "ạch" ngã xuống ruộng, chúng tôi, dép

cầm tay, mò mẫn đi từng bước, cứ thế mà đi. Gần đến bờ sông, giao liên cho

chúng tôi dừng lại, phái trinh sát đi bám đường.

Hai trinh sát đi khoảng hai mươi phút thì đụng biệt kích. Lần này bọn nó

không nằm phục trong đám vườn dọc bờ kinh, nó chồm ra ngoài ruộng. Súng

nổ tới tấp. Đạn rít veo véo qua đầu chúng tôi.

- Nằm xuống! Cô giao liên ra lệnh - Anh Tư dẫn khách đi, tôi ở lại.

Chẳng hiểu sao, lúc đó tôi muốn kéo cô cùng đi. Qua giọng phân công của cô,

tôi đoán cô là nhóm trưởng. Vừa nghe tiếng cô, nhìn lại cô đã vụt chạy đâu rồi.

Đạn đan thành lưới rít qua đầu chúng tôi, rơi "chéo chéo" trên mặt ruộng,

khiến chúng tôi phải nằm dán người vào bờ mẫu không sao ngóc đầu lên được.

Trong lúc đó, phía bên trái, bỗng có nhiều tiếng "cạc bin" nổ. Lập tức đường

đạn bay về hướng đó. Tôi đoán biết, cô giao liên đang dẫn đường đạn bay về

mình.

- Chạy ! - Anh Tư, người giao liên ra lệnh. Đoàn khách chúng tôi liền vọt lên.

Tôi không phải là người dạn súng cho lắm, nhưng lúc đó, tôi không thấy lo cho

mình nữa, tôi cứ nghĩ đến cô giao liên. Đoàn khách chúng tôi - không hàng

ngũ, chạy bừa qua ruộng lúa, đâm thẳng ra ven cây, rồi vượt qua sông.

Tiếng súng mỗi lúc một dữ dội. Tôi cố lắng nghe tiếng "cạc bin" của cô, nhưng

không tài nào nghe được, lòng cứ xôn xang.

Nhờ có tiếng súng biệt kích mà chúng tôi đến rặng cây làng rất sớm. Anh em

bên kia trạm - trạm L. A, cũng vừa đến, không phải chờ lâu.

Đoàn tập hợp lại trong một đám dứa bị chất độc hóa học, tàu lá lơ thơ, trống

trải. Đoàn khách còn đủ mặt, có một vài người bị mất dép, có người qua sông

bị trôi ba lô. Còn tôi, già mà hãy còn cứng. Tôi chả mất một món gì.

Ai cũng mệt mỏi, anh em giao liên cho chúng tôi nằm nghỉ đến sáng. Có người

không cần phải mắc võng, cũng chẳng trải ni lông, nằm vật xuống đất, lấy

bòng làm gối, ngáy pho pho. Còn tôi, vì nhiều nỗi, nên cứ lơ mơ. Tôi đang trên

đường về tỉnh nhà. Làng nước đâu còn như xưa nữa. Người ta bị rời nhà, bị dồn

vào các trại tập trung, rồi người ta lại phá ra, cả vườn tược cũng thay đổi. Tôi

nghe nói vậy, nhưng không thể hình dung ra được. Tôi cứ nhớ lại cảnh cũ. Nhớ

những lần trở về, nhớ cảnh chia tay của cha con anh Sáu mà cây lược tôi vẫn

còn giữ đây. Trong khi nghĩ miên man, đôi lúc tôi chợt nhớ đến anh em ở lại

chặn bọn biệt kích. Nhất là cô giao liên. Chẳng hiểu cô bé và anh em giao liên

ra sao. Mệt quá rồi tôi cũng thiếp đi...

Nghe đâu đây có tiếng chân đi, tiếng người nói, tiếng cười đùa. Tôi chợt tỉnh

dậy, thấy trời đã đâm mây ngang, màn đêm như vén dần ra cánh đồng. Tôi thấy

một nhóm người, chẳng nghe họ nói gì, nhưng biết là họ đang kể lại những

chuyện sôi nổi. Và tôi nhìn thấy, cô giao liên, quần áo cô bùn đất bê bết và

đẫm ướt. Thế là họ về kịp rồi.

Tôi vừa đến họ cũng vừa chìa tay ra. Bây giờ tôi mới nhìn rõ cô. Cô vừa chặn

địch, vừa bước ra khỏi chỗ nguy hiểm mà mặt cứ phơi phới. Mặc dù nước da cô

bị rám nắng, tôi trông cô không quá hai mươi tuổi. Con gái hai mươi tuổi

không thể có cặp mắt trong sáng như thế, và cô mới ngây thơ làm sao, cô vẫn

còn đeo bông tòn ten, cô đi dần về phía tôi, tôi bỗng muốn tỏ lòng mến phục

của tôi đối với cô, cả lòng cảm ơn nữa. Nhưng chẳng lẽ lại nói như vậy, tôi mỉm

cười chào cô và làm quen:

- Này cháu. Bác lo cho cháu quá! Cháu thứ mấy?

- Dạ cháu thứ hai.

- Sao bác lại nghe có người kêu cháu là chị út? Chắc là cháu đã có...

- Dạ không! - Cô giao liên chận câu nói của tôi lại - cháu vừa thứ hai vừa thứ út

vì cháu là con một mà!

- Cháu là người ở làng nào mà sao bác thấy quen quen.

- Dạ cháu ở Cù Lao Giêng!

Nghe đến tên làng, tôi bỗng giật mình. Nhìn cái đôi mắt cô bé, ngực tôi bỗng

phập phồng, và như có linh tính, tôi liền hỏi lại, hỏi dồn dập:

- Có phải Cù Lao Giêng, quận Chợ Mới, tỉnh Long Châu Sa không vậy cháu?

- Dạ phải.

- Cháu tên gì?

- Cháu tên Thu.

- Thu à? Tôi lặp lại và kinh ngạc .

Tôi lặp bặp hỏi tiếp:

- Có phải ba cháu là Sáu, má cháu là Bình phải không?

Cô bé kinh ngạc đến nỗi không nói được nữa, nó mở tròn mắt nhìn khắp người

tôi. Trong lúc đó, anh em giao liên trạm L.A. kêu khách chuẩn bị lên đường.

Nhưng tôi chẳng để ý cũng chẳng muốn nghe, tôi quay lại và bảo:

- Chờ tôi một chút.

Tôi quay lại cô bé. Cả hai người vẫn còn ngạc nhiên. Cô bé vẫn tròn mắt nhìn

tôi, đúng, đúng, đúng là đôi mắt của con cháu. Tôi thầm nghĩ, và bảo:

- Có phải không cháu?

- Dạ... Sao bác biết?

Tôi cố nén xúc động nhưng cũng lặp bặp nhắc lại:

- Bác là bác Ba đây này. Cháu có còn nhớ lúc ba cháu đi, ba cháu có hứa mua

cho cháu cây lược không?

Cô cháu khe khẽ gật đầu: "Dạ nhớ, dạ nhớ".

Các bạn ạ! Trong kháng chiến có những cuộc gặp gỡ thật tình cờ! Tôi vừa nhìn

cháu, vừa móc túi lấy ra cây lược.

- Ba cháu gởi cho cháu cây lược ngà này đây. Cây lược này do ba cháu làm.

Đôi mắt của cháu lại to tròn hơn, mặt xúc động đến thẫn thờ. Cháu đưa tay

nhận cây lược. Cây lược như đánh thức kỷ niệm ngày chia tay, ngực cháu phập

phồng. Thấy cháu nhìn ngắm cây lược, tim tôi bỗng nhói đau. Tôi biết cháu

đang bàng hoàng trước hạnh phúc bất ngờ, tôi không muốn làm gì xao động

đến hạnh phúc của cháu, tôi thấy cần phải nói dối:

- Ba cháu vẫn khoẻ, ba cháu không về được, nên gởi cho bác.

Cháu Thu liền chớp mắt nhìn tôi, môi mấp máy run run:

- Chắc là bác lầm, cây lược này không phải của ba cháu.

Tôi đâm ra thất vọng, hoang mang nữa, tôi hỏi lại:

- Ba cháu tên Sáu, má cháu tên Bình phải không?

- Dạ phải - Hình như cháu muốn khóc, mắt cháu đỏ hoe nhưng cố nén và nói:

- Nếu cháu không lầm thì chắc bác sợ cháu buồn nên bác nói giấu cháu. Cháu

biết cha cháu chết rồi. - Cháu chớp mắt, hai giọt lệ ứa ra, vỡ tràn qua đôi mắt -

Cháu chịu đựng được, bác đừng ngại, cháu nghe tin ba cháu chết đã hai năm

rồi, sau đó thì cháu xin má cháu đi giao liên...

Cháu còn muốn nói gì nữa, nhưng giọng bị tắc nghẹn đầu cúi xuống, mái tóc

khẽ run run. Còn tôi , tôi lỡ nói dối, nên chẳng biết thế nào nữa, đành im lặng.

Trong khi đó, anh em trong đoàn táo tác gọi tôi, giục tôi đi. Không thể nán lại

được nữa, tôi đành phải vội vàng hỏi xin cháu địa chỉ, hỏi thăm qua mẹ cháu và

bà con.

Nỗi mừng gặp gỡ bất ngờ khiến tôi chưa hết bàng hoàng thì lại phải chia tay.

Nhìn cháu tôi bỗng buột miệng nói:

- Thôi, ba đi nghe con!

Tôi không nghe cháu đáp lại, chỉ thấy đôi môi tái nhợt của cháu mấp máy.

Đi được một quãng xa nhìn lại, tôi thấy cháu cố đi theo tôi một đoạn đường.

Cháu dừng lại trên bờ mẫu những đợt sóng lúa xanh nhỏ nối đuôi nhau dập

dờn như chạy đến vỗ về cháu. Sau lưng cháu là đám dừa bị chất độc hóa học

mà tàu lá chỉ còn những cọng khô như những chiếc xương cá khổng lồ treo

lủng lẳng, đọt non vừa mới đâm lên, xa trông như một rừng gươm.

Lúc chia tay, tôi không nghe cháu gọi tôi là ba. Nhưng những lúc nằm một

mình, nhớ lại thì tôi nghe tiếng gọi "ba" của cháu, và tiếng "ba" như vang lên

từ trong tâm tôi.

1966

NGUYễN QUANG SáNG

______________

(1) Dây xích.

(2) Một loại cây mọc từng cụm, lá như dong riềng.

Vào một đêm trời sáng trăng suông, trong một ngôi nhà nhỏ, giữa Tháp Mười

mà chung quanh nước đã lên đầy, nói cho đúng đây là cái trạm của đường dây

giao thông, nhà nhỏ nhưng người lại đông. Chưa đến chuyến đi, chúng tôi còn

phải đợi. Ban ngày, chúng tôi chẳng biết đi đâu, hết nằm lại ngồi, có lúc thấy

cuồng chân, thật tù túng, nhưng lại có cái thú bù lại là thọc cần câu ra khỏi nhà

để câu cá. Ngày câu cá đã đủ ăn rồi, đêm không ai muốn câu nữa. Trong lúc

nhàn rỗi ấy, chúng tôi thường hay kể chuyện. Và tôi nghe câu chuyện này của

một đồng chí già kể lại. Ông vốn là người hay kể chuyện - nhiều nhất là

chuyện tiếu lâm, có cả tiếu lâm kháng chiến nữa, chuyện nào cũng làm cho

chúng tôi cười lăn cười bò. Trước khi kể, bao giờ ông cũng cười mỉm, mặt trở

nên hóm hỉnh, đúng là ông lão có duyên già. Nhưng hôm ấy ông đâm ra khác

thường. Ông già kể nhưng vẫn ngồi im, đầu hơi cúi xuống, trầm lặng, mặt

ngước nhìn ra mênh mông. Chắc là một chuyện cảm động, chúng tôi đoán như

vậy và không đùa nữa. Bên ngoài, một cơn gió ù ù thổi tới. Cái trạm này - một

ngôi nhà cất chen vào giữa một chòm cây giữa khu rừng tràm thưa, mỗi khi có

một cơn gió, sóng nối nhau đập vào tàn cây, nhà lại rung lên và lắc lư như một

con thuyền đang chơi vơi giữa biển. Sóng đập đều đều vào các chòm cây. Đàn

cò đứng ngủ không yên, một vài con vỗ cánh bay chấp chới. Sóng gió như

nhắc nhở ông điều gì, ông nghiêng tai lắng nghe. Khi cơn gió thổi qua, mặt

nước trở lại yên lặng, ông mới ngẩng lên mà nói. Ông nói với chúng tôi mà như

nói với cả trời nước vậy, ông không nhìn vào chúng tôi mà nhìn ra biển nước,

chân trời và các vì sao.

- Chuyện xảy ra cách đây đã hơn một năm rồi, mà mỗi lần nhớ lại, tôi cứ bàng

hoàng như vừa thấy một giấc mơ - Ông mở đầu với giọng trầm đục: - Hôm đó,

tôi đi từ trạm N.G. đến L.A. Khi chiếc xuồng máy đuôi tôm vừa xô ra bến thì

chúng tôi ai cũng muốn biết người lái ấy là ai. Không phải tò mò mà cần phải

biết. Bởi vì trước khi đi, người trạm trưởng có báo cáo với chúng tôi đó là một

đoạn đường dài, một đoạn đi xuồng máy, một đoạn đi bộ, đi xuồng dễ gặp trực

thăng soi, đi bộ thì dễ gặp biệt kích. Gặp trực thăng soi, anh em phải bình tĩnh,

không được nhốn nháo, không được tự động mà phải tuyệt đối tuân theo sự

điều khiển của người lái. Nói như vậy có nghĩa là sinh mạng mình phải hoàn

toàn phó thác cho người cầm lái ấy có phải không các bạn? Cho nên, tôi cần

nhìn, cần biết rõ người đang cầm giữ sinh mạng mình. Nhưng trời đã tối rồi, tôi

chỉ thấy đó là một cô gái người mảnh khảnh, vai mang cây "cạc-bin" bá xếp

của Mỹ, đầu chít khăn, dáng điệu gọn gàng.

Trước đó, tôi có được nghe tiếng đồn trạm này có một cô giao liên rất thông

minh. Một hôm cô dẫn một đoàn khách sắp sửa qua sông, cô để khách dừng lại

ngoài ruộng xa. Cô và một anh giao liên nữa tiến trước dọn đường. Đến vườn

cây bờ sông, cô thấy mình đã lọt vào ổ phục kích của địch. Nhưng cô không

bối rối. Cô vừa gọi người bạn của mình vừa nói, cô cố ý nói lớn cho bọn địch

nghe: "Tình hình yên, không có gì, anh trở lại dẫn khách đi, còn tôi sang sông

lắc xuồng đem qua". Trong câu nói ấy có ám hiệu. Anh giao liên liền quay lại,

êm ái đưa khách bọc qua ngả khác, vượt sông cách đó độ một vài cây số. Còn

cô ta, trước khi qua sông cô còn gài lại hai trái lựu đạn. Cô qua sông, thế là

thoát. Còn đám biệt kích kia, bọn nó tưởng thật, định hốt cả một đoàn khách,

nên chẳng dám rục rịch, mà cứ chờ. Chờ mãi, bọn nó biết, nó chửi rủa nhau,

trong lúc lục đục kéo về lớ quớ thế nào lại vấp cả hai quả lựu đạn gài, rụng hết

mấy mạng. Qua chuyện đó, người ta thêm thắt rằng cô giao liên ấy có cái mũi

rất thính, cô dùng mũi để nghe mùi địch và có thể phân biệt được thằng nào là

Mỹ, thằng nào là ngụy nữa.

Tôi nghĩ, nếu người nữ giao liên ấy là cô đang lái chiếc xuồng máy này thì

mình không đến nỗi lo lắm. Tôi muốn hỏi nhưng thấy không tiện nên đành

phải nói khéo:

- ở trạm này có mấy cháu nữ vậy hở cháu?

- Dạ một chị là chị nuôi với cháu nữa là hai.

Vậy là cô nữ giao liên này rồi, tôi cảm thấy mừng. Nghe giọng cô nói, tôi đoán

cô bé độ mười tám hai mươi là cùng. Tôi cảm thấy mến, muốn hỏi thêm nhưng

thấy cô đang lom khom quấn dây vào bánh trớn nên lại thôi. Quấn dây vào

bánh trớn xong, cô đứng thẳng người, quay lại nói với xuồng sau:

- Tôi đi trước nhé!

Mấy anh giao liên xuồng sau nhao lên:

- Thôi chị Hai đi trước đi.

- Chị út đi mạnh giỏi nhá!

Người gọi chị Hai, người gọi chị út, chẳng biết cô thật thứ mấy.

Cô đáp lại mấy câu láu lỉnh, gọi mấy chú giao liên là em rồi quay lại chúng tôi,

hạ giọng hết sức lễ phép:

- Các bác, các chú, các anh có gì quan trọng nên để trong túi áo, hoặc để trong

một cái gói riêng. Lỡ gặp trực thăng bắn hoặc biệt kích thì đồ quý không bị

mất, bị cháy.

Cô báo cho chúng tôi những điều không may có thể xảy ra nhưng giọng nói lại

dịu dàng - dễ thương nữa - khác hẳn với giọng nói căng thẳng của ông trạm

trưởng, nên tôi thấy không lo lắm. Nói xong, cô khom lưng, giật máy. Xuồng

rung lên theo tiếng máy nổ giòn, từ từ tách ra khỏi vòm cây rậm, rồi rào rào

lướt tới. Gió thổi mát cả người, mát đến từng chân tóc. Nghe cô dặn, anh em

khách lúi húi mở bòng. Còn tôi, tôi có cái gì quý ngoài giấy tờ, tiền ăn đường

đã để sẵn trong túi? Tôi chợt nhớ tới cây lược ngà nhỏ. Tôi liền mở bòng, mò

lấy cây lược, cho vào túi nhái đựng giấy tờ, bỏ vào túi ngực, rồi cài kim tây lại

thật cẩn thận.

Các bạn! Mỗi lần nhìn thấy cây lược ngà nhỏ ấy là mỗi lần tôi băn khoăn và

ngậm ngùi. Trong cuộc đời kháng chiến của tôi, tôi chứng kiến không biết bao

nhiêu cuộc chia tay, nhưng chưa bao giờ, tôi bị xúc động như lần ấy. Trong

những ngày hoà bình vừa lập lại, tôi cùng về thăm quê với một người bạn. Nhà

chúng tôi ở cạnh nhau gần vàm kinh nhỏ đổ ra sông Cửu Long. Chúng tôi cùng

thoát ly đi kháng chiến, đầu năm 1946, sau khi tỉnh nhà bị chiếm. Lúc đi, đứa

con gái đầu lòng của anh - và cũng là đứa con duy nhất của anh, chưa đầy một

tuổi. Anh thứ sáu và cũng tên là Sáu. Suốt mấy năm kháng chiến, chị Sáu có

đến thăm anh mấy lần. Lần nào anh cũng bảo chị đưa con đến. Nhưng cái cảnh

đi thăm chồng ở chiến trường miền Đông không đơn giản. Chị không dám đưa

con qua rừng. Nghe chị nói có lý anh không trách được. Anh chỉ thấy con qua

tấm ảnh nhỏ thôi. Đến lúc được về, cái tình người cha cứ nôn nao trong người

anh. Xuồng vào bến, thấy một đứa bé độ tám tuổi tóc cắt ngang vai, mặc quần

đen, áo bông đỏ đang chơi nhà chòi dưới bóng cây xoài trước sân nhà, đoán

biết là con, không thể chờ xuồng cặp lại bến, anh nhún chân nhảy thót lên, xô

chiếc xuồng tạt ra, khiến tôi bị chới với. Anh bước vội vàng với những bước

dài, rồi dừng lại kêu to:

- Thu! Con.

Vừa lúc ấy, tôi đã đến gần anh. Với lòng mong nhớ của anh, chắc anh nghĩ

rằng, con anh sẽ chạy xô vào lòng anh, sẽ ôm chặt lấy cổ anh. Anh vừa bước,

vừa khom người đưa tay đón chờ. Nghe gọi, con bé giật mình, tròn mắt nhìn.

Nó ngơ ngác, lạ lùng. Còn anh, anh không ghìm nổi xúc động. Mỗi lần bị xúc

động, vết thẹo dài bên má phải lại đỏ ửng lên, giần giật, trông rất dễ sợ. Với vẻ

xúc động ấy và hai tay vẫn đưa về phía trước, anh chầm chậm bước tới, giọng

lặp bặp run run:

- Ba đây con!

- Ba đây con!

Con bé thấy lạ quá, nó chớp mắt nhìn tôi như muốn hỏi đó là ai, mặt nó bỗng

tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên: "Má! Má". Còn anh, anh đứng sững lại đó,

nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương, và

hai tay buông xuống như bị gãy.

Vì đường xa, chúng tôi ở nhà được có ba ngày. Trong ba ngày ngắn ngủi đó,

con bé không kịp nhận ra anh là cha. Đêm nó không cho anh ngủ với chị. Con

bé tính khí thật không vừa, nó tuột xuống giường, đứng dưới đất chồm lên, nắm

tay anh kéo ra. Kéo không được, nó kê miệng cắn. Cho đến ngày đi, tay anh

vẫn còn hằn sâu những dấu răng của con. Suốt ngày anh chẳng đi đâu xa, lúc

nào cũng vỗ về con. Nhưng càng vỗ về con bé càng đẩy ra. Anh mong được

nghe một tiếng "ba" của con bé, nhưng con bé chẳng bao giờ chịu gọi. Nghe

mẹ nó bảo gọi ba vào ăn cơm thì nó bảo lại:

- Thì má cứ kêu đi.

Mẹ nó đâm nổi giận, quơ đũa bếp dọa đánh, nó phải gọi nhưng lại nói trổng:

- Vô ăn cơm!

Anh Sáu vẫn ngồi im, giả vờ không nghe, chờ nó gọi "ba vô ăn cơm". Con bé

cứ đứng trong bếp nói vọng ra:

- Cơm chín rồi! - Anh cũng không quay lại. Con bé bực quá, quay lại mẹ và

bảo:

- Con kêu rồi mà người ta không nghe.

Anh quay lại nhìn con vừa khẽ lắc đầu vừa cười. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi

không khóc được, nên anh phải cười vậy thôi. Bữa sau, đang nấu cơm thì mẹ

nó chạy đi mua thức ăn. Mẹ nó dặn, ở nhà có gì cần thì gọi ba giúp cho. Nó

không nói không rằng, cứ lui cui dưới bếp. Nghe nồi cơm sôi, nó giở nắp, lấy

đũa bếp sơ qua - nồi cơm hơi to, nhắm không thể nhắc xuống để chắt nước

được, đến lúc đó nó mới nhìn lên anh Sáu. Tôi nghĩ thầm, con bé đang bị dồn

vào thế bí, chắc nó phải gọi ba thôi. Nó nhìn dáo dác một lúc rồi kêu lên:

- Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái! - Nó cũng lại nói trổng.

Tôi lên tiếng mở đường cho nó:

- Cháu phải gọi "ba chắt nước giùm con", phải nói như vậy.

Nó như không để ý đến câu nói của tôi, nó lại kêu lên:

- Cơm sôi rồi, nhão bây giờ!

Anh Sáu cứ vẫn ngồi im. Tôi dọa nó:

- Cơm mà nhão, má cháu về thế nào cũng bị đòn. Sao cháu không gọi ba cháu.

Cháu nói một tiếng "ba" không được sao?

Lúc đó nồi cơm sôi lên sùng sục. Nó hơi sợ, nó nhìn xuống, vẻ nghĩ ngợi, nhắc

không nổi, nó lại nhìn lên. Tiếng cơm sôi như thúc giục nó. Nó nhăn nhó muốn

khóc. Nó nhìn nồi cơm, rồi nhìn lên chúng tôi. Thấy nó luýnh quýnh tôi vừa tội

nghiệp vừa buồn cười, nghĩ chắc thế nào cũng chịu thua. Nó loay hoay rồi

nhón gót lấy cái vá múc ra từng vá nước, miệng lầm bầm điều gì không rõ. Con

bé đáo để thật.

Trong bữa cơm đó, anh Sáu gắp một cái trứng cá to vàng để vào cái chén nó.

Nó liền lấy đũa xoi vào chén, để đó rồi bất thần hất cái trứng ra, cơm văng

tung tóe cả mâm. Giận quá và không kịp suy nghĩ, anh vung tay đánh vào

mông nó và hét lên:

- Sao mày cứng đầu quá vậy, hả?

Tôi tưởng con bé lăn ra khóc, sẽ giãy, sẽ đạp đổ cả mâm cơm, hoặc sẽ chạy vụt

đi. Nhưng không, nó ngồi im, đầu cúi gằm xuống. Nghĩ thế nào nó cầm đũa,

gắp lại cái trứng cá để vào chén, rồi lặng lẽ đứng dậy, bước ra khỏi mâm.

Xuống bến, nó nhảy xuống xuồng, mở lòi tói (1) cố làm cho dây lòi tói khua rổn rảng, khua thật to, rồi lấy dầm bơi qua sông. Nó sang qua nhà ngoại, méc với ngoại và khóc ở bên ấy - chiều đó, mẹ nó sang dỗ dành mấy nó cũng không về. Ngày mai anh Sáu phải đi, đó là đêm cuối cùng của hai anh chị, chị cũng không muốn bắt nó về.

Sáng hôm sau, bà con bên nội, bên ngoại đến rất đông - Cả con bé cũng theo

ngoại nó về. Anh Sáu phải lo tiếp khách, anh như không chú ý đến con nữa.

Còn chị Sáu thì lo chuẩn bị đồ đạc cho chồng, chị lo xếp từng chiếc áo, gói

ghém đồ đạc vụn vặt vào cái túi nhỏ, chị cứ lúi húi bên chiếc ba lô. Con bé như

bị bỏ rơi, lúc đứng vào góc nhà, lúc đứng tựa cửa và cứ nhìn mọi người đang

vây quanh ba nó. Vẻ mặt của nó có cái gì hơi khác, nó không bướng bỉnh hay

nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt

ngây thơ của con bé trông rất dễ thương. Với đôi mi dài uốn cong, và như

không bao giờ chớp, đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác,

không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa.

Đến lúc chia tay, mang ba lô lên vai, sau khi bắt tay hết mọi người, anh Sáu

mới đưa mắt nhìn con, thấy nó đứng trong góc nhà.

Chắc anh cũng muốn ôm con, hôn con, nhưng hình như cũng lại sợ nó giẫy lên

lại bỏ chạy, nên anh chỉ đứng nhìn nó. Anh nhìn nó với đôi mắt trìu mến lẫn

buồn rầu. Tôi thấy đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao.

-Thôi! Ba đi nghe con! - Anh Sáu khe khẽ nói.

Chúng tôi, mọi người - kể cả anh, đều tưởng con bé sẽ đứng yên đó thôi.

Nhưng thật lạ lùng, đến lúc ấy, tình cha con như bỗng nổi dậy trong người nó,

trong lúc không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên:

-Ba... a... a... ba!

Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người,

nghe thật xót xa. Đó là tiếng "Ba" mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm, tiếng

"Ba" như vỡ tung ra từ lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một

con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó.

Nó vừa ôm chặt lấy cổ ba nó vừa nói trong tiếng khóc:

-Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con!

Ba nó bế nó lên - nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn

cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa.

Trong lúc đó, ngoại nó cho tôi biết, đêm qua, bà đã tìm hiểu được vì sao nó

không chịu nhận ba nó. Bà hỏi:

-Ba con, sao con không nhận?

-Không phải - đang nằm mà nó cũng giẫy lên.

-Sao con biết là không phải? Ba con đi lâu, con quên rồi chứ gì?

-Ba không giống, cái hình ba chụp với má,

- Sao không giống, đi lâu, ba con già hơn trước thôi.

-Cũng không phải già, mặt ba con không có cái thẹo trên mặt như vậy.

à ra vậy, bây giờ bà mới biết. Té ra nó không nhận ba nó vì là cái vết thẹo, và

bà nó cho biết, ba nó đi đánh Tây bị Tây bắn bị thương - bà nhắc lại tội ác mấy

thằng Tây ở đồn đầu vàm cho nó nhớ. Nghe bà kể nó nằm im, lăn lộn và thỉnh

thoảng lại thở dài như người lớn. Sáng hôm sau, nó lại bảo ngoại đưa nó về. Nó

vừa nhận ra thì ba nó đã đến lúc phải đi rồi.

Trong lúc đó, nó vẫn ôm chặt lấy ba nó. Không ghìm được xúc động và không

muốn cho con thấy mình khóc, anh Sáu một tay ôm con, một tay rút khăn lau

nước mắt, rồi hôn lên mái tóc con:

-Ba đi rồi ba về với con.

-Không! - Con bé hét lên, hai tay nó xiết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay

không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, và đôi

vai nhỏ bé của nó run run.

Nhìn cảnh ấy, bà con xung quanh có người không cầm được nước mắt, còn tôi

bỗng thấy khó thở như có bàn tay ai nắm lấy trái tim tôi. Tôi bỗng nảy ra ý

nghĩ, muốn bảo anh ở lại vài hôm. Nhưng thật khó, chúng tôi chưa biết mình sẽ

đi tập kết hay ở lại. Chúng tôi cần về đúng ngày, nhận lệnh để kịp chuẩn bị.

Thế là đến lúc phải đi rồi, mọi người phải xúm lại vỗ về nó, mẹ nó bảo:

-Thu! Để ba con đi. Thống nhất rồi ba con về.

Bà ngoại nó vừa vuốt tóc nó vừa dỗ:

-Cháu của ngoại giỏi lắm mà! Cháu để ba cháu đi rồi ba sẽ mua về cho cháu

một cây lược.

Con bé lại ôm chầm ba nó một lần nữa và mếu máo:

-Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba! - Nó nói trong tiếng nấc, vừa

nói vừa từ từ tuột xuống.

Sau đó hai chúng tôi trở lại miền Đông. Chúng tôi là cán bộ đoàn thể, chúng tôi

không đi tập kết. Từ năm năm mươi tư đến năm mươi tám, năm mươi chín và

những năm khó khăn, các bạn đã biết rồi. Về công việc và đời sống ở rừng, tôi

có thể kể cho đến sáng, có đêm bị biệt kích vây bắt đến ba lần, có ngày không

gạo ăn, ăn toàn là bắp, nhưng thôi, đó là chuyện khác. Tôi xin trở lại mối tình

cha con của bạn tôi. Những đêm rừng, nằm trên võng mắc chỉ thấy tấm ny lông

nóc, lúc nhớ con, anh cứ ân hận sao mình lại đánh con. Nỗi khổ đó cứ giầy vò

anh - một hôm hai đứa đang rì rầm kể, anh bỗng ngồi bật dậy:

- Phải rồi! ở rừng này, người ta thỉnh thoảng có bắn voi, mình phải làm một

cây lược bằng ngà cho con bé mới được.

Và anh ao ước có một khúc ngà, một khúc ngà voi. Thật may mắn, sau đó

không lâu, vì thiếu thức ăn, anh em nghĩ đến chuyện đi săn, đi săn bằng tên

thuốc chớ không phải bằng súng. Lúc đó rừng vẫn còn phải giữ im lặng. Thật

ra thì anh em không đi săn voi, nhưng tình cờ lại gặp nó. Anh em định thả nó,

nhưng anh Sáu quyết định bắn.

Tôi hãy còn nhớ buổi chiều hôm đó - buổi chiều sau một ngày mưa rừng, giọt

mưa còn đọng trên lá, rừng sáng lấp lánh. Đang ngồi làm việc dưới tấm ny lông

nóc, tôi bỗng nghe tiếng kêu. Từ con đường mòn chạy lẫn trong rừng sâu, anh

hớt hải chạy về, tay cầm khúc ngà đưa lên khoe với tôi. Mặt anh hớn hở như

một đứa trẻ được quà.

Sau đó anh lấy vỏ đạn hai mươi ly của Mỹ, đập mỏng làm thành một cây cưa

nhỏ, cưa khúc ngà thành từng miếng nhỏ. Những lúc rỗi, anh cưa từng chiếc

răng lược, thận trọng, tỷ mỉ và cố công như người thợ bạc. Chẳng hiểu sao tôi

thích ngồi nhìn anh làm và cảm thấy vui vui khi thấy bụi ngà rơi mỗi lúc một

nhiều. Một ngày, anh cưa được một vài răng. Không bao lâu sau, cây lược được

hoàn thành. Cây lược dài độ hơn một tấc, bề ngang độ ba phân rưỡi, cây lược

cho con gái, cây lược dùng để chải mái tóc dài, cây lược chỉ có một hàng răng

thưa. Trên sóng lưng lược có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng, tẩn

mẩn khắc từng nét: "Yêu nhớ tặng Thu, con của ba". Cây lược ngà ấychưa chải

được mái tóc của con, nhưng nó như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh.

Những đêm nhớ con, anh ít nhớ đến nỗi hối hận đánh con, nhớ con, anh lấy

cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt. Có

cây lược, anh càng mong gặp lại con. Nhưng rồi một chuyện không may xảy

ra. Một ngày cuối năm năm mươi tám, năm đó ta chưa võ trang - trong một trận

càn lớn của quân Mỹ - ngụy, anh Sáu bị hy sinh. Anh bị viên đạn của máy bay

Mỹ bắn vào ngực. Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối lại

điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được, anh đưa tay vào

túi, móc cây lược, đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu. Tôi không đủ lời lẽ để tả

lại cái nhìn ấy, chỉ biết rằng, cho đến bây giờ, thỉnh thoảng tôi cứ nhớ lại đôi

mắt của anh.

- Tôi sẽ mang về trao tận tay cho cháu.

Tôi cúi xuống nhìn anh và khẽ nói. Đến lúc ấy, anh mới nhắm mắt đi xuôi.

Các bạn ạ! Trong những ngày đen tối ấy, người sống phải sống bí mật thì cũng

đã đành một lẽ, còn người chết cũng phải chết bí mật nữa. Mộ của anh không

thể đắp cao lên được - tìm thấy mồ mả, chúng sẽ đào lên và tìm ra dấu vết - cho

nên ngôi mộ của anh là ngôi mộ bằng, bằng phẳng như mặt rừng vậy. Tôi lấy

dao khắc vào một gốc cây rừng cạnh chỗ anh nằm làm dấu cho dễ nhớ.

Sống như thế và chết như thế, hỏi vậy làm sao mà chịu được? Chúng ta buộc

phải cầm súng.

Sau khi có căn cứ khá an toàn, người nhà tôi có đến thăm. Tôi định gởi cây

lược ngà về cho cháu Thu. Nhưng chị Sáu và cháu Thu không còn ở làng nữa.

Qua những lần tố cộng, những trận càn, những trận đốt làng dồn dân của bọn

Mỹ, không có mấy năm mà làng nước tan tác đi nhiều lắm. Mỗi người đi mỗi

nơi chẳng ai được tin ai. Người nhà tôi bảo có lúc nghe chị Sáu chạy lên Sài

Gòn, có lúc lại nghe chị Sáu lại quay về Đồng Tháp, vì thế mà tôi giữ mãi cây

lược của cháu.

Tôi cầm cây lược nhìn ngắm, lòng thấy bùi ngùi.

Trong lúc đó tiếng máy vẫn nổ giòn, và tôi lại muốn nhìn rõ cô giao liên -

người đang giữ sinh mạng của mình. Đêm không tối, cũng không sáng, nền

trời tràn qua nhiều lớp mây mỏng, rải rác một vài chòm sao. Trời sáng mập mờ

- Tôi chỉ nhìn thấy được dáng người của cô giao liên, gương mặt như hơi tròn

và một đôi mắt, đôi mắt của người con gái thật là khó tả. Chẳng hiểu cớ sao, từ

cái ánh mắt ấy, tôi dần dần thấy một người quen, quen lắm. Tôi cố nhớ, nhớ

không ra, tôi thấy mình lẩn thẩn.

Bỗng có tiếng kêu thất thanh:

- Máy bay !

- Máy bay !

Xuồng liền chòng chành, như có người định lao xuống, người nhốn nháo và

nhiều tiếng lao nhao lên:

- Tấp vào !

- Đâu?

- Đèn nó ở phía sau kìa!

- Tấp vào, tấp vào. Phản lực!

Cô giao liên cho máy nổ nhỏ dần, quay lại sau một lúc rồi bảo:

- Không phải đâu, sao trên trời đó mà.

Trong lúc mọi người đang lo, có người hoảng hốt, có người định nhảy thì giọng

của cô bình tĩnh như vậy đó. Có người chưa thật tin, nhưng trước thái độ thản

nhiên của cô, mọi người lại ngồi yên. "Sao trên trời đó mà", giọng nói nhỏ nhẹ

và ngọt ngào. Và cô lại cho máy nổ to.

Sau mấy ngày đi bộ, được ngồi trên chiếc xuồng máy thật là thích thú. Nhưng

nghĩ đến máy bay, tôi lại thấy phiền. Tiếng máy đuôi tôm nổ to quá như át cả

tiếng máy bay. May mà gặp cô giao liên bình tĩnh, cô mà rối, chắc có người đã

nhảy rồi, xuồng chắc cũng chìm mất. Tôi cố không nghĩ gì khác, tập trung lắng

nghe tiếng máy bay.

Xuồng bắt đầu vào một quãng kinh trống, hai bên bờ không có một ngôi nhà,

xa xa một chòm tre, một lùm cây, hai bên là cánh đồng hoang. Tôi sốt ruột

muốn cho xuồng lao nhanh hơn. Hình như hiểu tâm trạng tôi, cô cho máy nổ

to. Sóng trước mũi xuống trào lên kéo thành những đợt sóng dài, làm run rẩy

đám cỏ hai bên bờ, vỗ bập bềnh các giề lục bình và các đám nghề(2) mọc

hoang.

Trong lúc mọi người đang yên tâm, đang thích thú ngồi trên chiếc xuồng lao

nhanh thì cô giao liên tắt máy báo tin:

- Máy bay!

Cô vừa nói vừa tấp sát lại bụi tre. Chiếc xuồng sau cũng tấp lại. Rõ ràng là có

tiếng máy bay, tiếng cánh quạt "lạch bạch" của đám trực thăng Mỹ. Tôi chẳng

biết cái lỗ mũi của cô thính đến cỡ nào, còn cái tai của cô rõ là thính thật, tiếng

máy bay lẫn trong tiếng máy đuôi tôm, thật khó nghe.

Xuồng chòng chành, có người chới với muốn té:

- Nó còn xa lắm! - Cô trấn tĩnh chúng tôi - Các bác, các chú bước lên phân tán

mỏng, tìm núp vào chỗ kín. Nếu nó có soi tới các bác, các chú nhớ đừng động

đậy - Trong lúc cô nói, anh em khách đã vọt lên bờ hết rồi. Tôi là người cuối

cùng. Tôi vừa bước lên thì cô bảo:

- Bác cứ ở đây đi. Xuồng ít người không sao!

Nếu một người nào khác bảo như vậy, tôi chắc không nghe. Trước thái độ của

cô, ngồi cùng một chiếc xuồng với cô tôi thấy vững hơn ngồi trong công sự.

Đám trực thăng Mỹ từ đầu kinh soi lần lần tới, tiếng động cơ của nó rầm rộ,

như hàng chục chiếc tầu thủy đang chạy. ánh sáng ngọn đèn soi của nó mỗi

lúc một gần. Bọn Mỹ, ngụy thường đi ba chiếc, một chiếc tìm người, tìm mục

tiêu, còn hai chiếc soi đèn thì bắn.

- Lấy lá cây che kín, đừng động đậy nhé! - Cô lại nhắc tôi.

Đó là lần đầu tiên tôi bị trực thăng soi, khi ngọn đèn của nó soi qua - cái thứ

ánh sáng chói chang và tiếng cánh quạt đập trên đầu, tôi thấy xuồng mình rõ

quá, tôi thấy cái be dài, thấy những lỗ trống của ba lô dưới lớp lá ngụy trang,

thấy cỏ quặn lên như trong một cơn lốc, tôi nghĩ: "Thôi chết rồi". Tôi rút vai

thu mình cho nhỏ lại. Như đoán được tâm trạng của tôi, cô lại nhắc:

- Nó không thấy rõ mình như mình thấy mình đâu!

Lần này, lời cô nói với tôi không hiệu quả nữa. Phút chốc tôi lại muốn lao

xuống nước. Nhưng tôi kịp trấn tĩnh.

Rồi cái ánh sáng ma quỷ ấy xa dần với tiếng động cơ rầm rộ mỗi lúc mỗi xa.

Đêm lại mờ mờ đi. Tôi vẫn ngồi im vì còn lo nó quay trở lại. Cô giao liên nói

như an ủi tôi:

- Nó làm coi dữ vậy, nhưng nó chẳng thấy cái gì đâu. Miễn là mình bình tĩnh,

đừng động đậy - Đoạn cô nhìn ra cánh đồng, gọi anh em khách. Anh em có

người ướt nhem, vừa thay quần áo, vừa chửi rủa. Xuồng lại nổ máy.

Quá nửa đêm, đoàn chuyển lên đi bộ - Chúng tôi đi men theo bờ mẫu, băng

qua cánh đồng, bờ mẫu chỗ bùn lầy, chỗ lồi lõm, chỗ nhầy nhụa, chúng tôi đi

sát vào nhau và hầu như thay phiên nhau trượt té vậy. - Người này đang lom

khom ngồi dậy, người khác lại đánh "ạch" ngã xuống ruộng, chúng tôi, dép

cầm tay, mò mẫn đi từng bước, cứ thế mà đi. Gần đến bờ sông, giao liên cho

chúng tôi dừng lại, phái trinh sát đi bám đường.

Hai trinh sát đi khoảng hai mươi phút thì đụng biệt kích. Lần này bọn nó

không nằm phục trong đám vườn dọc bờ kinh, nó chồm ra ngoài ruộng. Súng

nổ tới tấp. Đạn rít veo véo qua đầu chúng tôi.

- Nằm xuống! Cô giao liên ra lệnh - Anh Tư dẫn khách đi, tôi ở lại.

Chẳng hiểu sao, lúc đó tôi muốn kéo cô cùng đi. Qua giọng phân công của cô,

tôi đoán cô là nhóm trưởng. Vừa nghe tiếng cô, nhìn lại cô đã vụt chạy đâu rồi.

Đạn đan thành lưới rít qua đầu chúng tôi, rơi "chéo chéo" trên mặt ruộng,

khiến chúng tôi phải nằm dán người vào bờ mẫu không sao ngóc đầu lên được.

Trong lúc đó, phía bên trái, bỗng có nhiều tiếng "cạc bin" nổ. Lập tức đường

đạn bay về hướng đó. Tôi đoán biết, cô giao liên đang dẫn đường đạn bay về

mình.

- Chạy ! - Anh Tư, người giao liên ra lệnh. Đoàn khách chúng tôi liền vọt lên.

Tôi không phải là người dạn súng cho lắm, nhưng lúc đó, tôi không thấy lo cho

mình nữa, tôi cứ nghĩ đến cô giao liên. Đoàn khách chúng tôi - không hàng

ngũ, chạy bừa qua ruộng lúa, đâm thẳng ra ven cây, rồi vượt qua sông.

Tiếng súng mỗi lúc một dữ dội. Tôi cố lắng nghe tiếng "cạc bin" của cô, nhưng

không tài nào nghe được, lòng cứ xôn xang.

Nhờ có tiếng súng biệt kích mà chúng tôi đến rặng cây làng rất sớm. Anh em

bên kia trạm - trạm L. A, cũng vừa đến, không phải chờ lâu.

Đoàn tập hợp lại trong một đám dứa bị chất độc hóa học, tàu lá lơ thơ, trống

trải. Đoàn khách còn đủ mặt, có một vài người bị mất dép, có người qua sông

bị trôi ba lô. Còn tôi, già mà hãy còn cứng. Tôi chả mất một món gì.

Ai cũng mệt mỏi, anh em giao liên cho chúng tôi nằm nghỉ đến sáng. Có người

không cần phải mắc võng, cũng chẳng trải ni lông, nằm vật xuống đất, lấy

bòng làm gối, ngáy pho pho. Còn tôi, vì nhiều nỗi, nên cứ lơ mơ. Tôi đang trên

đường về tỉnh nhà. Làng nước đâu còn như xưa nữa. Người ta bị rời nhà, bị dồn

vào các trại tập trung, rồi người ta lại phá ra, cả vườn tược cũng thay đổi. Tôi

nghe nói vậy, nhưng không thể hình dung ra được. Tôi cứ nhớ lại cảnh cũ. Nhớ

những lần trở về, nhớ cảnh chia tay của cha con anh Sáu mà cây lược tôi vẫn

còn giữ đây. Trong khi nghĩ miên man, đôi lúc tôi chợt nhớ đến anh em ở lại

chặn bọn biệt kích. Nhất là cô giao liên. Chẳng hiểu cô bé và anh em giao liên

ra sao. Mệt quá rồi tôi cũng thiếp đi...

Nghe đâu đây có tiếng chân đi, tiếng người nói, tiếng cười đùa. Tôi chợt tỉnh

dậy, thấy trời đã đâm mây ngang, màn đêm như vén dần ra cánh đồng. Tôi thấy

một nhóm người, chẳng nghe họ nói gì, nhưng biết là họ đang kể lại những

chuyện sôi nổi. Và tôi nhìn thấy, cô giao liên, quần áo cô bùn đất bê bết và

đẫm ướt. Thế là họ về kịp rồi.

Tôi vừa đến họ cũng vừa chìa tay ra. Bây giờ tôi mới nhìn rõ cô. Cô vừa chặn

địch, vừa bước ra khỏi chỗ nguy hiểm mà mặt cứ phơi phới. Mặc dù nước da cô

bị rám nắng, tôi trông cô không quá hai mươi tuổi. Con gái hai mươi tuổi

không thể có cặp mắt trong sáng như thế, và cô mới ngây thơ làm sao, cô vẫn

còn đeo bông tòn ten, cô đi dần về phía tôi, tôi bỗng muốn tỏ lòng mến phục

của tôi đối với cô, cả lòng cảm ơn nữa. Nhưng chẳng lẽ lại nói như vậy, tôi mỉm

cười chào cô và làm quen:

- Này cháu. Bác lo cho cháu quá! Cháu thứ mấy?

- Dạ cháu thứ hai.

- Sao bác lại nghe có người kêu cháu là chị út? Chắc là cháu đã có...

- Dạ không! - Cô giao liên chận câu nói của tôi lại - cháu vừa thứ hai vừa thứ út

vì cháu là con một mà!

- Cháu là người ở làng nào mà sao bác thấy quen quen.

- Dạ cháu ở Cù Lao Giêng!

Nghe đến tên làng, tôi bỗng giật mình. Nhìn cái đôi mắt cô bé, ngực tôi bỗng

phập phồng, và như có linh tính, tôi liền hỏi lại, hỏi dồn dập:

- Có phải Cù Lao Giêng, quận Chợ Mới, tỉnh Long Châu Sa không vậy cháu?

- Dạ phải.

- Cháu tên gì?

- Cháu tên Thu.

- Thu à? Tôi lặp lại và kinh ngạc .

Tôi lặp bặp hỏi tiếp:

- Có phải ba cháu là Sáu, má cháu là Bình phải không?

Cô bé kinh ngạc đến nỗi không nói được nữa, nó mở tròn mắt nhìn khắp người

tôi. Trong lúc đó, anh em giao liên trạm L.A. kêu khách chuẩn bị lên đường.

Nhưng tôi chẳng để ý cũng chẳng muốn nghe, tôi quay lại và bảo:

- Chờ tôi một chút.

Tôi quay lại cô bé. Cả hai người vẫn còn ngạc nhiên. Cô bé vẫn tròn mắt nhìn

tôi, đúng, đúng, đúng là đôi mắt của con cháu. Tôi thầm nghĩ, và bảo:

- Có phải không cháu?

- Dạ... Sao bác biết?

Tôi cố nén xúc động nhưng cũng lặp bặp nhắc lại:

- Bác là bác Ba đây này. Cháu có còn nhớ lúc ba cháu đi, ba cháu có hứa mua

cho cháu cây lược không?

Cô cháu khe khẽ gật đầu: "Dạ nhớ, dạ nhớ".

Các bạn ạ! Trong kháng chiến có những cuộc gặp gỡ thật tình cờ! Tôi vừa nhìn

cháu, vừa móc túi lấy ra cây lược.

- Ba cháu gởi cho cháu cây lược ngà này đây. Cây lược này do ba cháu làm.

Đôi mắt của cháu lại to tròn hơn, mặt xúc động đến thẫn thờ. Cháu đưa tay

nhận cây lược. Cây lược như đánh thức kỷ niệm ngày chia tay, ngực cháu phập

phồng. Thấy cháu nhìn ngắm cây lược, tim tôi bỗng nhói đau. Tôi biết cháu

đang bàng hoàng trước hạnh phúc bất ngờ, tôi không muốn làm gì xao động

đến hạnh phúc của cháu, tôi thấy cần phải nói dối:

- Ba cháu vẫn khoẻ, ba cháu không về được, nên gởi cho bác.

Cháu Thu liền chớp mắt nhìn tôi, môi mấp máy run run:

- Chắc là bác lầm, cây lược này không phải của ba cháu.

Tôi đâm ra thất vọng, hoang mang nữa, tôi hỏi lại:

- Ba cháu tên Sáu, má cháu tên Bình phải không?

- Dạ phải - Hình như cháu muốn khóc, mắt cháu đỏ hoe nhưng cố nén và nói:

- Nếu cháu không lầm thì chắc bác sợ cháu buồn nên bác nói giấu cháu. Cháu

biết cha cháu chết rồi. - Cháu chớp mắt, hai giọt lệ ứa ra, vỡ tràn qua đôi mắt -

Cháu chịu đựng được, bác đừng ngại, cháu nghe tin ba cháu chết đã hai năm

rồi, sau đó thì cháu xin má cháu đi giao liên...

Cháu còn muốn nói gì nữa, nhưng giọng bị tắc nghẹn đầu cúi xuống, mái tóc

khẽ run run. Còn tôi , tôi lỡ nói dối, nên chẳng biết thế nào nữa, đành im lặng.

Trong khi đó, anh em trong đoàn táo tác gọi tôi, giục tôi đi. Không thể nán lại

được nữa, tôi đành phải vội vàng hỏi xin cháu địa chỉ, hỏi thăm qua mẹ cháu và

bà con.

Nỗi mừng gặp gỡ bất ngờ khiến tôi chưa hết bàng hoàng thì lại phải chia tay.

Nhìn cháu tôi bỗng buột miệng nói:

- Thôi, ba đi nghe con!

Tôi không nghe cháu đáp lại, chỉ thấy đôi môi tái nhợt của cháu mấp máy.

Đi được một quãng xa nhìn lại, tôi thấy cháu cố đi theo tôi một đoạn đường.

Cháu dừng lại trên bờ mẫu những đợt sóng lúa xanh nhỏ nối đuôi nhau dập

dờn như chạy đến vỗ về cháu. Sau lưng cháu là đám dừa bị chất độc hóa học

mà tàu lá chỉ còn những cọng khô như những chiếc xương cá khổng lồ treo

lủng lẳng, đọt non vừa mới đâm lên, xa trông như một rừng gươm.

Lúc chia tay, tôi không nghe cháu gọi tôi là ba. Nhưng những lúc nằm một

mình, nhớ lại thì tôi nghe tiếng gọi "ba" của cháu, và tiếng "ba" như vang lên

từ trong tâm tôi.

1966

NGUYễN QUANG SáNG

______________

(1) Dây xích.

(2) Một loại cây mọc từng cụm, lá như dong riềng.

Hết Chương 1
Thông tin sách